Tìm hiểu về tích Tứ Dân

Trong xã hội xưa tiêu biểu là ở Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản được chia làm 4 giai cấp (4 tầng lớp dân) hay còn gọi là tứ dân bao gồm “Sĩ – Nông – Công – Thương”

Người Trung Quốc thường kiêng số 4 vì số 4 trong tiếng trung gọi là “Tứ” đọc lái đi là “Tử”. Tuy nhiên ở Việt Nam thì số 4 được dùng khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày như: Tứ bất tử của Việt Nam là “ Thánh Mẫu, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Sơn Tinh”. Ngoài ra trong đồ gỗ mỹ nghệ cũng sử dụng rất nhiều con số 4 như : Tranh tứ quý, Tranh tứ bình, Tứ dân, Tứ Linh…

>> Trường kỷ là gì? Các phân loại, phân biệt Trường kỷ, Phương kỷ, Đoản kỷ

Tứ dân ở Việt Nam có ý nghĩa như thế nào?

1. Sĩ

Trong xã hội xưa thì giai cấp được xếp đầu tiên và được xã hội trọng vọng nhất là  “Sĩ”. Sĩ là từ được dùng để chỉ tầng lớp những người có hiểu biết về chữ nghĩa hay còn gọi là tầng lớp trí thức (như những thầy đồ, thầy thuốc, quan lại, học trò). Những người thuộc tầng lớp này nhìn chung có cuộc sống rất nhàn nhã, suất ngày chỉ chăm chỉ đọc sách thánh hiền, ngâm thơ… Những người bình dân muốn thay đổi cuộc sống gần như chỉ có con đường duy nhất là học hành và thi khoa cử.

Tầng lớp Sĩ phu gần như không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất nhưng lại được xếp hàng đầu trong các tầng lớp giai cấp qua đó phản ánh tư tưởng coi trọng việc học hành, khoa cử trong xã hội người Việt xưa. Ở trong gia đình những người thuộc tầng lớp này thì người Vợ là người rất vất vả, tần tảo sớm hôm lo việc đồng áng, mua bán để nuôi chồng ăn học và thi khoa cử. Nếu người chồng thi đậu khoa cử thì người vợ sẽ trở thành bà thám, bà bảng hay là mợ cử, mợ tú. Trường hợp người chồng không thi đậu kho cử thì người vợ vẫn có thể hãnh diện với dân làng với danh là vợ thầy đồ hay là vợ tú tài.

 

Tranh Vinh Quy Bái Tổ

Tranh Vinh quy bái tổ

2. Nông

Đây là tầng lớp chỉ những người nông dân cày ruộng, đây là lực lượng đông đảo nhất và chủ yếu trong xã hội Việt Nam xưa. Họ là lực lượng lao động chính và chủ đạo nuôi sống toàn bộ xã hội cũng như lực lượng chính để tham gia quân đội bảo vệ đất nước, nhưng chính họ cũng là lực lượng bị áp bức nhiều nhất trong xã hội. Những người nông dân quanh năm suất tháng làm việc vất vả, chân lấm tay bùn nhưng đôi khi cũng không đủ ăn do có nhiều gánh nặng về thuế khóa, lao định hoặc thiên tai, mất mùa. Trong tầng lớp “Nông: cũng phân hóa thành 3 loại chính như sau:

– Trung Nông: Những người thuộc nhóm này thì có ruộng đất riêng, có nông cụ sản xuất riêng và họ tự mình trồng cấy không phải đi thuê ai làm cũng như không tham gia bóc lột sức lao động. Nói chung những người thuộc nhóm này thì có cuộc sống thoải mái hơn những người trong nhóm khác, họ không bị phụ thuộc vào ai và có quyền tự chủ hơn.

– Bần Nông: Những người thuộc nhóm này thì cũng có ruộng riêng để canh tác nhưng họ sở hữu ít ruộng đất nên phải đi làm thuê thêm và phải thuê các nông cụ để sản xuất. Những người thuộc nhóm này ngoài làm các công việc đồng ruộng của nhà thì họ phải đi làm thuê hoặc thuê đất của địa chủ để canh tách thêm mới đủ sinh sống nên đôi khi cũng bị bóc lột sức lao động.

– Cố Nông: Những người thuộc nhóm này là tầng lớp nghèo khổ nhất trong tầng lớp nông dân và có thể nói là bần cùng nhất của xã hội. Họ không có ruộng đất cũng như nông cụ để sản xuất nên phải sử dụng sức lao động của mình để đi làm thuê cho chủ để kiếm sống. Họ là tầng lớp bị áp bức bóc lột nhất trong xã hội xưa.

3. Công

Đây là tầng lớp chỉ những người làm nghề thủ công, làm thuê trong các làng nghề truyền thống như dệt, trạm khảm, làm tranh, các sản phẩm thủ công…. tầng lớp này có số lượng ít và tồn tại ở những ngôi làng nghề thủ công có quy mô nhỏ, chủ yếu phục vụ nhu cầu của khu vực xung quanh. Ở những vùng quê nông thôn thì những người thuộc tầng lớp này đa phần là những người nông dân họ tranh thủ thời gian rảnh để làm thêm những công việc này để cải thiện cuộc sống, những người ở những khu vực thành thị lớn hơn thì thường tập hợp lại thành nhóm gọi là phường để giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau.

4. Thương

Đây là tầng lớp chỉ những người kinh doanh buốn bán, vai trò của họ bị đặt ở hàng thấp nhất trong xã hội bởi vì xuất phát từ thực tế của nền kinh tế tự cung tự cấp và tính tự trị của làng xã, Trong xã hội thời đó nhu cầu trao đổi hàng hóa ngoài phạm vi cư trú gần như là không có, do đó những người làm nghề buôn bán phải năng động, sòng phẳng và thậm chí phải gian lận mới có lãi. Cụm từ “mua gian bán lận” đã trở thành cụm từ rất phổ biến cho tới tận ngày nay, đây là điều khó có thể được chấp nhận trong một xã hội thuần nông coi trọng lễ nghĩa. Người Việt xưa kia cho rằng nghề kinh doanh là nghề buôn bán nước bọt, mua rẻ bán đắt để ăn chênh lệch và không tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội, do đó những người làm nghề này người ta thường gọi là “con buôn” vì cho rằng đây là nghề có tính chất lừa lọc người khác để có lợi cho mình nên những người làm nghề này thường không được người khác yêu mếm.

Thực chất tứ dân là 1 phần trong 12 ngành nghề trong thời xưa, Thời kỳ chế độ phong kiến được chia thành 3 tầng lớp đó là: Quyền lực – Ngành nghề – Tiêu khiển

Quyền lực:  “Công – Hầu – Bá – Tước” đây là nhóm đại diện cho tầng lớp quyền lực.

Ngành nghề: “Sĩ – Nông – Công – Thương”

Tiêu khiển: “Ngư – Tiều – Canh – Mục” trong đó Ngư : nghề đánh cá, tiều: nghề đốn củi, canh: nghề canh tác ruộng vườn, Mục: nghề chăn nuôi.

Như vậy trong xã hội xưa có 4 ngành nghề đầu tiên là phong tước còn 8 ngành nghề còn lại được chia theo bậc cao thấp. Người xưa thường ví von “mười hai bến nước” ý chỉ người con gái khi đến tuổi lấy chồng được bố mẹ gả cho người khác và số phận “đục – trong” thế nào sẽ phải chịu, 12 bến nước ở đây chính là tượng chưng cho 12 ngành nghề đã nêu trên.

Vai trò của tứ dân trong xã hội hiện đại ngày nay

Trải qua hàng trăm năm với nhiều thay đổi, xã hội Việt Nam hiện đại đã có nhiều thay đổi trong quan niệm về vai trò của Tứ dân. Cả bốn tầng lớp sĩ, nông, công, thương đều có vai trò, vị thế ngang nhau trong xã hội, vì không ai thay thế được ai. Bên cạnh tầng lớp sĩ, 3 tầng lớp còn lại (nông, công, thương) muốn tồn tại, có tác dụng cho xã hội cũng phải học hành, trau dồi trí thức, văn hóa. Đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam chủ trương mở cửa để hội nhập với thế giới, thì thương chẳng những không bị coi thường như trước mà còn được đặc biệt coi trọng. Điều này được thể hiện ở một sự việc: Trong khi sĩ, nông, công chưa có ngày của riêng mình thì đã có ngày doanh nhân Việt Nam dành riêng cho giới doanh nhân. Nhiều doanh nhân đã được xã hội tôn vinh, được nhân dân trân trọng bởi họ làm ăn chân chính, đúng luật, thi hành trách nhiệm nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước, kích thích sản xuất phát triển.

 

Bình Luận

Loading Facebook Comments ...

2 thoughts on “Tìm hiểu về tích Tứ Dân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *